Ca dao về quê hương thường làm hai việc: gọi tên đất cho người ta nhớ, rồi mời cho người ta muốn về. Bài dưới đây làm gọn cả hai chỉ trong bốn câu.
Bình Định có núi Vọng Phu
Có đầm Thị Nại, có cù lao Xanh
Em về Bình Định cùng anh
Được ăn bí đỏ nấu canh nước dừa
Nghĩa đen: ba cái tên và một bát canh
Câu đầu điểm ngay ba cái tên. Núi Vọng Phu, chữ vọng phu nghĩa là trông ngóng chồng, là tên gắn với chuyện kể dân gian: dáng núi trông như bóng người vợ bồng con đứng chờ chồng rồi hoá đá. Chuyện ấy mỗi nơi kể một kiểu, chẳng ai truy được đầu đuôi.
Đầm Thị Nại là tên một vùng đầm nước, còn cù lao Xanh là tên một hòn đảo ngoài khơi. Ba cái tên gộp lại là đủ ba mặt của một vùng đất: có núi, có đầm, có biển đảo.
Hai câu sau đổi giọng hẳn. Đang kể tên đất, người hát quay sang rủ rê, em về cùng anh. Mà thứ đem ra mời chẳng có gì sang, chỉ là bí đỏ nấu canh nước dừa, món nấu bằng thứ sẵn trong vườn.
Nghĩa bóng: cảnh để chào, cơm để giữ
Cách sắp xếp ấy nói được một ý rõ ràng: cảnh đẹp chỉ là lời chào, còn cái giữ chân người là bữa cơm và tấm lòng. Kể núi, kể đầm, kể đảo là khoe rằng quê mình chẳng thiếu gì. Nhưng tới lúc mời thật thì hạ giọng xuống mức mộc nhất, mời một bát canh.
Chính chỗ hạ giọng ấy làm nên cái duyên. Mời món sang thì hoá khách sáo, mời món nhà thì thành người một nhà. Bát canh bí đỏ nấu nước dừa là lời hứa về một đời sống thường ngày, có gì ăn nấy mà ấm.
Đặt núi Vọng Phu ngay câu đầu cũng khéo. Cái tên ấy gợi ngay chuyện chờ đợi, chuyện vợ chồng xa nhau. Bài mở ra bằng bóng người chờ chồng rồi khép lại bằng lời rủ nhau cùng về, như muốn bảo rằng chuyện xa cách là chuyện của núi, còn đôi ta thì nên về cùng nhau.
Bài học và cách dùng hôm nay
Kể về nơi mình sống, cứ học đúng lối của bài này: nêu vài cái tên cụ thể rồi kết bằng một lời mời giản dị. Bảo quê tôi đẹp lắm thì người nghe quên ngay, chứ gọi thẳng tên núi tên đầm thì họ nhớ. Mà rủ người ta về ăn bữa cơm nhà bao giờ cũng hơn mấy lời hoa mĩ.
Chữ cùng trong câu em về Bình Định cùng anh cũng đáng nhớ. Mời suông rồi để người ta tự lo là một chuyện, cùng đi cùng về cùng sống lại là chuyện khác. Vợ chồng ăn ở với nhau lâu bền hiếm khi nhờ mấy dịp long trọng, phần lớn là nhờ những bữa cơm thường có nhau. Với con trẻ, bốn câu này là cái cớ để hỏi con quê mình có núi gì, sông gì, món gì, cho quê hương thành thứ gọi được tên và nếm được.
Những câu cùng ý
- Muốn ăn bông súng mắm kho, thì vô Đồng Tháp ăn cho đã thèm — cũng mời về bằng một món quê.
- Đường vô xứ Nghệ quanh quanh, non xanh nước biếc như tranh hoạ đồ — mời gọi bằng cảnh trên đường đi.
- Đồng Đăng có phố Kỳ Lừa, có nàng Tô Thị, có chùa Tam Thanh — cùng lối kể tên ba cảnh cho dễ nhớ.
- Râu tôm nấu với ruột bầu, chồng chan vợ húp gật đầu khen ngon — cái ấm nằm trong bữa cơm đạm bạc.
Đôi lời về bài này
Bài ca dao này do người xưa truyền miệng mà giữ lại, không rõ ai đặt, cũng không rõ có từ bao giờ. Vậy nên đọc thì cứ đọc cho vui, xem là lời tham khảo về nếp sống và cách mời chào ngày trước, đừng coi là bản ghi chép về một vùng đất. Cảnh trong bài là cảnh nằm trong trí nhớ dân gian, còn ngoài đời thì đường sá, ruộng vườn, món ăn đều đổi theo thời, có chỗ nay đã khác xa. Cái không cũ là ý này: khoe cảnh thì dễ, giữ người mới khó, mà giữ được người thường là nhờ bữa cơm tử tế chứ chẳng nhờ gì to tát.
Ảnh minh hoạ: Alexkom000 — giấy phép CC BY 4.0, qua Wikimedia Commons.


